Huyện Anh Sơn nằm ở tọa độ 18,10’ – 18,46’ vĩ độ Bắc, 105, 15’ – 105,55’ kinh độ Đông. Phía Tây tiếp giáp huyện Con Cuông, phía Tây Nam giáp với nước bạn Lào với 7,2 km đường biên giới. Phía Đông giáp huyện Đô Lương, phía Nam giáp huyện Thanh Chương, phía Bắc giáp Tân Kỳ. Diện tích toàn huyện là 60.600 ha (số liệc năm 2008), xếp thứ 11 ở Nghệ An. Huyện có 12 đơn vị hành chính. .

1. Đất Anh Sơn
Huyện Anh Sơn nằm ở tọa độ 18,10’ – 18,46’ vĩ độ Bắc, 105, 15’ – 105,55’ kinh độ Đông. Phía Tây tiếp giáp huyện Con Cuông, phía Tây Nam giáp với nước bạn Lào với 7,2 km đường biên giới. Phía Đông giáp huyện Đô Lương, phía Nam giáp huyện Thanh Chương, phía Bắc giáp Tân Kỳ. Diện tích toàn huyện  là 60.600 ha (số liệc năm 2008), xếp thứ 11 ở Nghệ An. Huyện có 12 đơn vị hành chính.
Anh Sơn là một vùng đất cổ. Dấu vết của người Việt cổ đến khai sơn, phá thạch vùng đất này còn in dấu ở các di chỉ hang Đồng Trương (Hội Sơn), hang Bò (Hoa Sơn)…Theo các nhà khảo cổ, các hiện vật nằm ở 2 giai đoạn: giai đoạn sớm thời hậu kỳ đá cũ thuộc tầng lớp văn hóa Sơn vi, sơ Hòa Bình; giai đoạn muộn thuộc văn hóa kim khí thời tiền Đông Sơn.
Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) phủ Anh Sơn ra đời. Anh Sơn là địa danh hành chính của một vùng đất rộng lớn bao gồm các huyện Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghi Lộc và Thành Phố Vinh. Năm Minh Mạng thứ 21 (1840) phủ Anh Sơn được cắt ra thành 5 tổng Lãng Điền, Đô Lương, Bạch Hà, Thuần Trung, Đặng Sơn. Huyện Anh Sơn ngày nay nằm về phía Bắc của Phủ thuộc tổng Lãng Điền và một phần tổng Đặng Sơn.
Ngày 19 – 4 – 1963, hội đồng chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) có quyết định 52/CP về việc chia tách  Anh Sơn thành 2 huyện: Đô Lương và Anh Sơn. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện khóa I được tổ chức từ ngày 29/4 đến ngày 3/5 tại hội trường Liên Cơ đã hoàn thiện việc tách huyện và xây dựng phương hướng nhiệm vụ cơ bản cho sự phát triển của huyện trong giai đoạn tiếp theo.
Địa hình Anh Sơn  trập trùng đồi núi, dốc dần từ Tây sang Đông. Điểm cao nhất là đỉnh núi Kim Nhan ở Hội Sơn (Lèn Kim Nhan chín tầng mây phủ). Địa hình được chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng đồng bằng, vùng đồi núi thấp, vùng đồi núi cao. Sông Lam chảy từ đầu đến cuối huyện đi qua 17 xã với chiều dài 55,2 km. Bắt nguồn từ dòng Nậm Mộ, về đến Anh Sơn sông Lam hiền hòa bồi đắp phù sa cho bờ bãi ven sông. Ngoài sông Lam, Anh Sơn còn bị chia cắt bởi sông Giăng, sông Con và các con suối nhỏ.
Không chỉ là vùng quê non xanh, nước biếc, sơn thủy hữu tình, giàu tiềm năng kinh tế với các loại cây chủ lực: chè, ngô, mía mà Anh Sơn còn là mảnh đất giàu truyền thồng văn hóa với những thuần phong mỹ tục đặc trưng. Các Tiểu vùng Vĩnh Hòa, Nhân Hòa, Vĩnh Tường, Kim Long, Lạng Sơn được thành lập trong những năm đầu lập nước đến nay đã kế thừa và phát triển những phẩm chất của Người Anh Sơn, đây cơ sở để tạo nên truyền thống hiếu học của vùng đất này.
2. Con Người và truyền thống lịch sử, văn hóa
Anh Sơn là vùng đất cộng cư của nhiều lớp người: dân bản địa, dân ngụ cư, đồng bào Lương, đồng bào Công Giáo, dân tộc Kinh, dân tộc Thái. Vì thế, văn hóa Anh Sơn hội tụ nhiều loại hình: văn hóa rãy dốc, văn hóa rãy bằng, văn hóa lúa nước, văn hóa sông nước cùng tồn tại, giao lưu và tiếp biến.  Anh Son là nơi sinh sống của người Việt cổ. Trong sử sách còn lưu giữ những truyền thuyết, vết tích về Lý Nhật Quang, Lê Lợi chiêu mộ binh sĩ, cư ngụ ở vùng đất này. Con người Anh Sơn sống quây quần theo làng xã, dòng tộc nên văn hóa làng và văn hóa dòng họ là nét đặc sắc của văn hóa Anh Sơn. Có 2 làng đã được đưa vào giới thiệu trong số 51 làng tiêu biểu của Việt Nam tại cuốn sách “Làng Việt Nam nổi tiếng” (NXB Thanh Niên, 2005) là làng Yên Phúc và làng Dừa. Có nhiều dòng họ nổi tiếng về truyền thống yêu nước, khoa bảng như Nguyễn Văn, Nguyễn Đình, Bùi Công, Nguyễn Sỹ,  họ Đặng, Trần Đăng, Lê Quốc, Lê Văn…
Người Anh Sơn có truyền thống yêu nước, bất khuất, quật cường…trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Từ thời Lý Nhật Quang chiêu mộ binh sĩ đánh quân Ai Lao ở miền Tây Nghệ An đến khởi nghĩa Lam Sơn của nghĩa quân Lê Lợi, nhân dân Anh Sơ đã nô nức hưởng ứng để làm nên  miền Trà Lân trúc chẻ tro bay. Từ những con người trong các sự tích, truyền thuyết đến những con người trong đấu tranh chống quân xâm lược, chống phong kiến, cường hào địa chủ…đều nghĩa hiệp, kiên trung, quả cảm. Lịch sử Anh Sơn đã ghi lại những dấu son chói lọi của phong trào 1930 – 1931 với đội Tự vệ đỏ và những con người ưu tú như Phan Thái Ất, Trần Hữu Thiều, Nguyễn Hữu Bình. Trong khởi nghĩa giành chính quyền Anh Sơn ghi dấu bởi những “làng đỏ” Dương Xuân, Yên Phúc, Kim Nhan, Tri Lễ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Người Anh Sơn đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng vừa sản xuất vừa chiến đầu kiên cường bản vệ quê hương. Hơn 12.000 người con Anh Sơn đã lên đường đi chiến đấu trong đó 2065 đã vĩnh viễn không bao giờ trỏ về, hơn 2000 thương, bệnh binh đã để lại chiến trường một phần xương thịt của cơ thể, có 29 bà mẹ Việt nam Anh hùng, 6 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Anh sơn được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong lao động, sản xuất, sinh hoạt thường ngày, Người Anh Sơn cần cù, chăm chỉ, trung thực, thẳng thắn, tài hoa, lãng mạn. Là vùng cộng cư của nhiều lớp người đến đây sinh sống, phải cật lực kiếm ăn nên họ làm đủ nghề. Cuộc sống của dân Anh Sơn chủ yếu gắn bó với rừng, với ruộng vườn nương rẫy. Phải đối diện với thiên nhiên khắc nghiệt, Người Anh Sơn đã có nhiều sáng tạo trong lao động sản xuất để nuôi sống mình và làm giàu cho xã hội. Anh Sơn Tự hào là nơi đứng chân của nhiều nhà máy: Nhà máy Đường Đỉnh Sơn, nhà máy Xi Măng Quân Đội, Nhà máy xi măng Dầu khí, các xí nghiệp chè, tổng đội thanh niên xung phong được mở ra để khai thác và phát huy tiềm năng của Người Anh Sơn  
Anh Sơn chưa phải là vùng đất học nhưng người Anh Sơn tự hào là hiếu học, khổ học thành tài. Các sỹ phu, nho sĩ ngày xưa đã coi lèn Kim Nhan là biểu tượng của cây bút thần viết chữ lên trời cao. Qua các thời kỳ lịch sử, truyền thống giáo dục của Anh Sơn ngày càng rạng rỡ. Trong thời phong kiến có 2 người đỗ đại khoa là Ngô Trọng Điển đậu tiến sĩ khoa Bính Ngọ và Nguyễn Văn Giá đậu tiến sĩ khoa Quý Sửu. Thời nhà Nguyễn, Anh Sơn có 5 Tiến sĩ trong 91 tiến sĩ của tỉnh Nghệ An. Thời thuộc Pháp có nhiều người đỗ tú tài Hán học, đỗ tiến sĩ …trong đó dòng họ Nguyễn Văn (Phúc Sơn) như một dấu son tô thắm thêm truyền thống hiếu học với Nguyễn Văn Thưởng (tú tài – được phong Hàn lâm học sĩ), Nguyễn Văn Giá (con ông Thưởng, đậu tiến sĩ – năm 1913), Nguyễn Văn Định (Con ông Giá, đậu tiến sĩ ở Pháp năm 1933), Nguyễn Thị Kim Yến, Nguyễn Thị Kim Ninh, Nguyễn Thị Kim Ý (Con ông Định đều đậu tiến sĩ tại Pháp). Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh khó khăn vất vả nhưng người Anh Sơn vẫn khao khát con chữ. Các lớp Bình dân học vụ được mở ra khắp các làng xã, nhân dân tự nguyện đóng góp sách vở, giấy, bút, bàn, ghế…để mở lớp. Trong kháng chiến chống Mỹ, tinh thần hiếu học của Người Anh Sơn vẫn vượt lên trên đau thương do chiến tranh gây nên. Năm 1964 – 1965, Anh Sơn là huyện đầu tiên của Tỉnh có nghị quyết về công tác giáo dục và ngành giáo dục Anh Sơn được tỉnh cử đi báo cáo điển hình miền Bắc tại Thái Bình. Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ sau 1986, người Anh Sơn đã khẳng định được tinh thần hiếu học của mình bằng những thành tích, những con số trên các diễn đàn dạy – học: học sinh giỏi toàn miền Bắc (Em Nguyễn Hồng Nhị), học sinh đậu đại học điểm cao, đậu học sin giỏi Tỉnh…luôn xếp vào tốp đầu của Tỉnh.
Như vậy, năm 1822, vua Minh Mệnh cho cho định lại bản đồ hành chính của cả nước, tên gọi Anh Sơn bắt đầu từ đó và tồn tại cho đến ngày nay. Ranh giới địa lý và diện tích tự nhiên của Anh Sơn đã trải qua nhiều lần thay đổi. Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, Đất và Người Anh Sơn luôn sát cánh trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, hàn gắn vết thương chiến tranh, đấu tranh với đói nghèo, lạc hậu để đi lên khẳng định mình.